Hotline: 0852 87 45 87
CMS

Hướng dẫn quản lý âm thanh trong CMS

19 lượt xem

Thêm, sửa, sắp xếp và xuất bản âm thanh; giải thích nguồn URL, thuộc tính theo danh mục và các thao tác lưu riêng.

Giao diện danh sách âm thanh

Mở Quản lý nội dung → Âm thanh với tài khoản có quyền tương ứng. Màn hình dùng tập hợp, tìm, thêm và sửa âm thanh của doanh nghiệp, điều chỉnh thứ tự, trạng thái và xóa. Các bản ghi được website sử dụng theo danh mục và module của template; nguồn chưa được module sử dụng sẽ không tự xuất hiện trên trang chủ.

Tìm theo tên / danh mục: Nhập từ khóa, chọn nhóm MID phù hợp và bấm Tìm. Danh mục con thể hiện theo cây; nới bộ lọc khi chưa thấy bản ghi. Chọn ngôn ngữ nếu giao diện cung cấp để xem tên đúng bản ngôn ngữ.

Ảnh và thông tin nguồn: Ảnh chỉ là đại diện. Url là nguồn nội dung; Link/Xem là trang website nếu bản ghi có đường dẫn do hệ thống dựng. Kiểm tra hai loại địa chỉ riêng.

Thứ tự: Nút giảm/tăng gửi giá trị mới ngay. Đây là sắp xếp bản ghi trong nguồn, không phải thời lượng hoặc ngày phát hành.

Hiển thị: Công tắc trong danh sách gửi ngay. Đóng trang sau đó không hoàn tác trạng thái đã ghi.

Sửa / tiêu đề dẫn tới chi tiết: Mở bản ghi cần hoàn thiện. Chỉ dùng đường dẫn chi tiết của đúng mã nội dung và đúng loại.

Xóa: Xác nhận đúng tên trước khi xóa. Nút có thể phụ thuộc người tạo hoặc quyền thao tác nội dung người khác. Xóa bản ghi khác với tắt Hiển thị để tạm ẩn.

Sử dụng/Hoạt động bật cho phép nội dung hiển thị trên các phần website áp dụng điều kiện xuất bản. Tắt tạm ẩn, bản ghi vẫn còn trong CMS. Bật không tự đưa nội dung lên trang chủ: cần đúng danh mục, module, skin và điều kiện lọc. Xóa là thao tác khác với tạm ẩn.

Giao diện Thêm âm thanh

Form tạo bản ghi mới loại AUD cố định. Không có dropdown chuyển loại; danh sách các tên trong ô Danh mục là nhóm dữ liệu của doanh nghiệp. Đổi nhóm ở form thêm chỉ chuẩn bị giá trị cho bản mới, chưa thực hiện chuyển một nội dung đã tồn tại.

Tiêu đề: Tên âm thanh để nhận diện và hiển thị. Dùng tiêu đề mô tả đúng nội dung, không đặt tên tệp khó hiểu.

Danh mục: Chọn nhóm MID phù hợp trước khi Thêm. Form có thể lấy nhóm đầu tiên làm mặc định. Dấu + mở hộp tạo danh mục và tải lại danh sách; kiểm tra lại nhóm sau khi đóng hộp.

Hình: Ảnh đại diện/ảnh bìa PNG, JPEG, GIF hoặc WebP. Đây không phải tệp âm thanh; chọn ảnh rồi Thêm để ghi.

Url: Địa chỉ nguồn âm thanh. Dùng địa chỉ thật có thể truy cập. Với tài liệu, đây là liên kết tới tệp hoặc nơi xem tài liệu, không phải ô tải PDF lên máy chủ.

Mô tả: Đoạn giới thiệu ngắn giúp người xem biết nội dung gì, dùng cho ai. Khác với mô tả dài có trình soạn thảo trong chi tiết.

Thứ tự: Đặt vị trí sắp xếp trong tập nội dung theo module đang sử dụng.

Thêm / Đóng: Thêm kiểm tra và gửi bản mới. Đóng bỏ phần chưa gửi; mở lại có thể giữ vài giá trị vì form không luôn tạo model trắng cho mọi lần mở. Kiểm tra toàn bộ trường trước mỗi lần thêm.

Embed: Đoạn mã nhúng trình phát từ nguồn cung cấp. URL thường và mã HTML nhúng là hai dạng khác nhau. Handler bắt buộc có Url hoặc Embed, cho phép nhập cả hai; nguồn nào được website dùng phụ thuộc skin. Chỉ có dữ liệu ở cả hai ô không bảo đảm trình phát hoạt động.

  1. Chuẩn bị tiêu đề, nhóm, ảnh đại diện và nguồn nội dung.
  2. Bấm Thêm, kiểm tra nhóm, điền từng trường; thử mở nguồn ở tab riêng nếu cần.
  3. Bấm Thêm một lần và chờ thông báo; tìm bản mới trong danh sách.
  4. Mở chi tiết để nhập mô tả dài, thuộc tính và kiểm tra trạng thái.
  5. Mở website để kiểm tra nguồn có phát/xem được, không chỉ kiểm tra ảnh đại diện.

Giao diện Sửa âm thanh

Chọn ngôn ngữ trước khi soạn. Bạn có thể sửa tiêu đề, Url, Embed, hình, mô tả ngắn, thứ tự và mô tả chi tiết. Các trường văn bản, ảnh và công tắc Sử dụng trong form phải bấm Lưu của nội dung. Mô tả chi tiết dùng trình soạn thảo để tạo đoạn, tiêu đề, danh sách và liên kết; không dán nguyên một trang HTML có head/body hoặc thêm H1 trùng tiêu đề website.

Trên giao diện âm thanh hiện tại, ô mã nhúng và ô mô tả có thể mang nhãn gần giống nhau. Đối chiếu nội dung: ô liên quan Embed chứa mã trình phát, ô Brief chứa lời giới thiệu. Không dán mã nhúng vào mô tả ngắn chỉ vì nhãn giống nhau. Trang chi tiết âm thanh có route riêng dù khả năng đi tới từ một số giao diện phụ thuộc phiên bản/menu.

Đổi danh mục và giao diện thuộc tính

Đổi danh mục: lưu ngay và xóa giá trị thuộc tính cũ

Đổi danh mục của nội dung đã tồn tại có tác động ngay đến dữ liệu đã lưu. Hệ thống không chỉ thay tên nhóm trên màn hình: API kiểm tra danh mục, xóa các bản ghi giá trị thuộc tính của nội dung, cập nhật danh mục rồi lưu cơ sở dữ liệu. Không có bước bấm Lưu chung để xác nhận lại thay đổi này.

  1. Trước khi đổi, ghi lại các giá trị cần giữ trong Thông tin khác và Tìm kiếm, ở từng ngôn ngữ đang sử dụng. Lưu hoặc sao chép riêng các phần đang soạn để không nhầm chúng với dữ liệu đã lưu.
  2. Chọn đúng danh mục đích. Chỉ thực hiện khi đã quyết định chuyển nội dung; không dùng danh sách này để thử xem danh mục khác có những trường nào.
  3. Chờ thông báo thành công. Khi API thành công, màn hình nhận danh mục mới và hai khối thuộc tính tải lại. Nếu có lỗi, kiểm tra thông báo và dữ liệu sau khi mở lại trang, không tiếp tục nhập thuộc tính theo một danh mục chưa được lưu thành công.
  4. Nhập lại các giá trị phù hợp với bộ thuộc tính mới. Thuộc tính có nút Lưu cần lưu từng trường; công tắc, ô chọn và nút chọn một giá trị gửi cập nhật ngay.
  5. Mở lại nội dung và kiểm tra từng ngôn ngữ. Chọn lại danh mục cũ không khôi phục các giá trị đã bị xóa.

Phạm vi bị xóa: xử lý phía máy chủ lọc theo mã nội dung, không lọc theo ngôn ngữ hay nhóm thuộc tính. Vì vậy, toàn bộ giá trị thuộc tính đã lưu của nội dung ở các ngôn ngữ đều nằm trong phạm vi xóa; ngay cả thuộc tính xuất hiện ở cả danh mục cũ và mới cũng không được giữ lại theo cách xử lý này. Thao tác này không xóa định nghĩa thuộc tính dùng chung trong phần cấu hình. Không diễn giải việc mất giá trị thuộc tính là xóa bài viết, sản phẩm hoặc tệp nội dung.

Ví dụ minh họa: một nội dung đang có thuộc tính “Tác giả” ở danh mục A. Chuyển sang danh mục B có cùng thuộc tính “Tác giả” vẫn cần nhập lại giá trị đã ghi trước đó. Nếu B không có thuộc tính này, ô nhập sẽ không còn xuất hiện. Đây là ví dụ về quy tắc xử lý, không phải mô tả một bản ghi đã được thử chuyển trong dữ liệu thật.

Vì sao bộ thuộc tính thay đổi hoặc một khối không có ô nhập?

Hệ thống lấy thuộc tính theo nội dung, danh mục hiện tại, ngôn ngữ đang chọn và nhóm mục đích. Các thuộc tính được cấu hình cho danh mục hiện tại hoặc các danh mục cha có thể được đưa vào, theo ngôn ngữ tương ứng. Các trường được sắp theo độ ưu tiên của định nghĩa thuộc tính. Khối Thông tin khác dùng nhóm thông tin; khối Tìm kiếm dùng nhóm bộ lọc. Cách trình bày trên website còn phụ thuộc template có sử dụng các trường này hay không.

Khi một trong các thông tin nhận diện trên thay đổi, component xóa danh sách đang hiển thị và gọi API tải lại. Nếu có nhiều yêu cầu tải nối tiếp, phản hồi cũ không được ghi đè kết quả của lần tải mới hơn. Một khối trống có thể do chưa cấu hình thuộc tính cho danh mục/ngôn ngữ đó; nếu tải lỗi, hệ thống có thông báo lỗi, không nên hiểu là chắc chắn không có thuộc tính.

Lưu giá trị thuộc tính như thế nào?

Văn bản, văn bản nhiều dòng, số, ngày, màu: Nhập hoặc chọn giá trị, rồi bấm Lưu cạnh chính trường đó. Chỉ trường đó được gửi cập nhật. Nút Lưu của nội dung không thay thế các nút này.

Hình ảnh thuộc tính: Chọn tệp ảnh, sau đó bấm Lưu của trường. Chọn tệp mới chỉ chuẩn bị dữ liệu. Khi lưu, máy chủ xử lý ảnh và lưu đường dẫn; sau thành công, component tải lại danh sách thuộc tính. Do đó nên lưu các trường khác đang sửa trước khi lưu ảnh thuộc tính.

Công tắc đúng/sai: Bật hoặc tắt. Gửi giá trị ngay. Công tắc thuộc tính chỉ có ý nghĩa theo tên thuộc tính; không tự đồng nghĩa với trạng thái xuất bản của nội dung.

Chọn nhiều giá trị: Đánh dấu hoặc bỏ đánh dấu từng ô. Mỗi lần thay đổi gửi lại tập giá trị đã chọn. Code lưu các lựa chọn dưới dạng chuỗi phân cách bằng dấu phẩy.

Chọn một giá trị: Bấm nút tròn cạnh lựa chọn. Gửi lựa chọn ngay; chỉ một giá trị được chọn trong trường đó.

Máy chủ kiểm tra thuộc tính có thuộc danh mục hiện tại hoặc danh mục cha của nội dung, đúng ngôn ngữ và thuộc nhóm được phép hay không. Nếu nội dung đã bị chuyển danh mục ở một tab khác, lưu một ô thuộc tính cũ có thể bị từ chối với thông báo Thuộc tính không thuộc danh mục nội dung hiện tại. Khi đó cần ghi lại phần đang nhập và mở lại trang để làm việc với bộ trường đúng.

Luôn đọc thông báo của từng lần lưu. Giá trị còn hiện trong ô sau một lỗi không chứng minh rằng máy chủ đã lưu thành công.

Kiểm tra và xử lý nguồn không hiển thị

Nếu thấy tiêu đề nhưng không phát video/audio hoặc không mở được tài liệu, kiểm tra Url/Embed còn hợp lệ, nguồn có cho phép nhúng, quyền truy cập của người xem và skin có hỗ trợ nguồn đó. Nếu không thấy cả bản ghi, kiểm tra Sử dụng, danh mục và nguồn module. CMS lưu thông tin nguồn; việc nguồn bên ngoài bị xóa hoặc hạn chế truy cập không tự được sửa bởi nút Lưu.

  1. Chờ thông báo thành công của đúng thao tác vừa thực hiện; đọc lỗi trước khi làm tiếp.
  2. Lưu hoặc sao chép phần còn đang soạn rồi mở lại bản ghi để đối chiếu dữ liệu máy chủ.
  3. Mở đúng trang website và ngôn ngữ để kiểm tra nội dung, trạng thái, đường dẫn và bố cục. Nếu còn dữ liệu cũ, kiểm tra cache và điều kiện module, không tạo thêm bản ghi trùng để xử lý.
GÓC TRAO ĐỔI

Bình luận & đánh giá

Chia sẻ trải nghiệm hoặc đặt câu hỏi về nội dung bài viết.

0 bình luậnChưa có đánh giáViết bình luận ↓

Bạn có câu hỏi hoặc kinh nghiệm muốn chia sẻ? Hãy là người đầu tiên để lại bình luận.

Viết bình luận của bạn

Bình luận sẽ hiển thị sau khi được duyệt. Số điện thoại chỉ dùng để liên hệ, không hiển thị công khai.

Mức độ hữu ích (không bắt buộc)
Từ 10 đến 3.000 ký tự. Không gửi mật khẩu hoặc thông tin nhạy cảm.
Mã xác nhận gồm 5 ký tự
KHÁM PHÁ THÊM

Bài viết khác cùng danh mục

Xem tất cả: CMS →

Trao đổi nhu cầu của bạn với Dybi

Website theo yêu cầu, phần mềm POS hoặc một quy trình kết hợp cả hai.

Đăng ký tư vấn